Tài liệu kỹ thuật nuôi Tôm Thẻ Chân Trắng

with Không có phản hồi

I. CÁCH CHUẨN BỊ HỒ VÀ XỬ LÝ NƯỚC

1. Chuẩn bị ao:
– Đối với ao mới: công việc chuẩn bị thực hiện dễ dàng hơn: phơi ao cho khô, Đối với ao mới: công việc chuẩn bị thực hiện dễ dàng hơn: phơi ao cho khô, làm vệ sinh, xử lý các loại thực vật xung quanh. Cố gắng không để hoá chất xử lý còn lại dư lượng trong ao sẽ gây hại cho tôm giống. Sau đó đo pH đất, pH phù hợp sẽ ở trong khoảng 7,5 – 8. Nếu pH của đất thấp hơn 6 nên dùng vôi bột (Canxi hydroxyt) rắc khắp hồ với tỷ lệ 100 kg/hecta. Nếu pH của đất lớn hơn 6 nhỏ hơn 7.5, lấy MARINE ZEOLITE tỷ lệ 30-50 kg/hecta.
– Đối với ao cũ: Việc dọn tẩy lớp bùn đáy trong ao được thực hiện bằng một trong hai cách là dọn tẩy khô và dọn tẩy ướt. Trong phương pháp dọn tẩy khô, lớp bùn đáy sau khi được phơi khô sẽ được dọn bỏ bằng cơ giới hay bằng tay. Phương pháp dọn tẩy ướt được thực hiện bằng cách dùng máy bơm nước áp lực mạnh để rửa trôi lớp bùn đáy còn ướt.

2. Xử lý nước:
– Tại vùng chưa từng phát sinh bệnh nguy hiểm như đầu vàng, thân đỏ, đốm trắng. Nước đưa vào nuôi tôm phải tiến hành lắng, lọc qua túi lọc nhằm loại bỏ trứng côn trùng và côn trùng trưởng thành theo nước vào ao nuôi. Túi lọc có thể gồm 4 lớp lưới và lưới có thể dày 150 max nhằm lọc bỏ địch hại của tôm.
– Đối với những vùng vụ trước có dịch bệnh xảy ra trong quá trình xử lý nước nên sử dụng thuốc diệt khuẩn như Pro Chlor 30 kg/1 hecta Pro Chlor có tác dụng diệt tảo độc, tảo sợi, cả vi sinh vật có lợi và vi sinh vật không có lợi làm nước trong. Tuy nhiên, Pro Chlor  thường để lại dư lượng trong nước. Do vậy, trước khi thả tôm nên kiểm tra dư lượng Pro Chlor.
– Cách kiểm tra dư lượng Pro Chlor : lấy 1 ml nước ao, nhỏ 1-2 giọt Potasium iodine Nếu nước trong nghĩa là nước ao không còn dư lượng chlorine, nếu đổi sang màu nâu vàng tức là trong nước còn dư lượng Pro Chlor.
– Đối với trường hợp nuôi tôm thẻ có thể sử dụng OBAMA để diệt khuẩn trong nước với tỷ lệ 1-2 lít/1 hecta. Sau đó để thuốc diệt khuẩn bay hơi hết rồi tiến hành gây màu nước cho ao nuôi tôm.

3. Gây màu nước:
– Cách gây màu nước bằng COLOR MINERAL đây là phương pháp gây màu nước an toàn và màu nước rất bền COLOR MINERAL có thành phần chủ yếu là khoáng vi lượng có tác dụng kích thích tảo và động vật phù du phát triển là thức ăn tự nhiên rất tốt cho tôm. Sử dụng COLOR MINERAL với hàm lượng 25 – 30 kg/hecta. Sau 2 ngày tảo phát triển tạo màu nước đẹp cho ao nuôi tôm, sau 3-5 ngày động vật phù du phát triển bổ sung nguồn thức ăn bổ dưỡng cho tôm nuôi. Trong trường hợp cần gây màu nước gấp có thể sử dụng sản phẩm gây màu giả COLOR BLUE theo tỷ lệ 250 g/1 hecta nhằm hạn chế stress do ánh nắng mặt trời gây ra cho tôm, sau đó sử dụng COLOR MINERAL.
– Sau khi gây màu nước nên tiến hành kiểm tra chất lượng nước xem các yếu tố môi trường đã phù hợp cho sự phát triển của tôm chưa để có biện pháp xử lý kịp thời. Trong quy trình nuôi tôm nên có ao lắng nhằm chủ động nguồn nước trong sản xuất. Trong ao lắng nên thả động vật thuỷ sản ăn tảo, ăn mùn bã hữu cơ, rong đuôi chồn như cá điêu hồng, cá rô phi nhằm cải thiện chất lượng nước trong ao lắng.
– Đối với những ao đã nuôi lâu năm hoặc những ao nuôi ở độ mặn thấp, thiếu khoáng cần thiết cho sự sinh trưởng phát triển của tôm làm tỷ lệ sống của tôm thấp. Do vậy nên bổ sung thêm bằng những sản phẩm chứa nhiều khoáng như MARIO có tác dụng tăng cường khoáng chất cho ao nuôi, tăng tỷ lệ sống của tôm. Sử dụng MARIO theo tỷ lệ 5-10 kg/hecta. Nếu sử dụng sản phẩm này thường  xuyên sẽ phục hồi trạng thái tốt cho ao nuôi. Ngoài ra đối với những vùng bị ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật hay ô nhiễm kim loại nặng nên sử dụng CALINA 4-5 lít/hecta giúp phân huỷ chất độc, kim loại nặng giúp tôm khoẻ mạnh, tỷ lệ sống cao.

II. CÁCH CHỌN GIỐNG VÀ THẢ GIỐNG

1. Cách chọn giống tôm thẻ chân trắng chất lượng tốt:
a. Chọn bằng cảm quan qua các đặc điểm như:
– Đầu nhỏ, đuôi mập, tỉ lệ giữa bề rộng của bụng với  bề rộng của ruột xấp xỉ 4:1
– Tôm khoẻ mạnh, bơi lội hoạt bát, thích bơi ngược dòng, tôm không dị hình, ruột và dạ dày no, cơ thể có màu sắc tươi sáng.
– Tôm không nhiễm bệnh, cơ thể nguyên vẹn.

Chú ý khi chọn giống tôm thẻ chân trắng nên tránh:
– Tôm giống có cơ thể không cân đối: đầu to, ngực nở, đuôi quắt.
– Con giống có ruột màu đen, lưng cong.
– Hoạt động chậm chạp.

b. Sốc: sốc formol 70 – 100 ppm, thời gian 30 phút, hoặc sốc độ mặn bằng cách giảm đột ngột độ mặn xuống 50%, nếu tỉ lệ chết < 10% là đạt yêu cầu.

c. Chọn qua xét nghiệm: để phát hiện, loại bỏ mẫu tôm yếu, nhiễm virus đốm trắng, đầu vàng, MBV…

2. Cách thả tôm:
– Trước khi thả một đêm nên mở mạnh máy quạt nước làm tăng hàm lượng oxy ao nuôi.
– Tôm thẻ chân trắng khi bắt giống về có thể thả vào thùng lớn, sau đó múc một ít nước dưới ao cho vào thùng, để khoảng 40 đến 60 phút cho tôm quen dần với môi trường ao nuôi. Khi tôm hồi sức khuấy tạo dòng nước trong thùng, tôm yếu tập trung giữa thùng ta tiến hành siphon để loại bỏ tôm yếu ra ngoài, còn lại tôm khoẻ bơi ngược dòng nước thả từ từ xuống ao.
– Hiện nay, Tình Trạng Tôm chết non ngày tuổi rất nhiều, vì vậy trước khi thả tôm post chúng ta có thể ngâm post 1 tiếng bằng Sản Phẩm Bomaga 3-5 ml/100.000-500.000 con post. Để khắc phục hiện tượng tôm chết non, tôm tấp mé nổi đầu và chết đột ngột.
Chú ý: Khi thả tôm nên thả đầu gió, thả vào sáng sớm trời mát, giảm stress cho tôm, tỉ lệ sống cao.

III. CHĂM SÓC, QUẢN LÝ

1. Thức ăn và cách cho ăn
Giai đoạn từ ngày 1 đến ngày thứ 14 cho tôm ăn thức ăn  40-45% đạm:
– Từ ngày thứ 1 – 7: Cho tôm ăn 1kg thức ăn cho 10.000 con tôm/ngày, cho ăn 2 bữa/ngày (bữa sáng và bữa tối). Nên cho ăn bổ sung thêm thịt cá tươi vào bữa trưa 1 kg/10.000 con tôm nhằm vừa cung cấp dinh dưỡng cho tôm vừa gây màu nước duy trì nguồn thức ăn tự nhiên.
– Từ ngày thứ 8 – 14: Ngừng cho ăn cá tươi mà chỉ dùng thức ăn. Giai đoạn này nên sử dụng thêm MARINE BOOMER với tỉ lệ 50-100kg/hecta nhằm bổ sung vi sinh vật có lợi cho ao nuôi tôm đồng thời duy trì nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm.

Giai đoạn từ 15 đến 40 ngày sau khi thả tôm:
– Giai đoạn này tăng lên 3 bữa/ngày, thường xuyên kiểm tra khả năng bắt mồi của tôm bằng nhá nhằm điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.

Giai đoạn từ ngày thứ 40 đến khi thu hoạch:
– Giai đoạn này cho tôm ăn thức ăn có độ đạm 30%-35%, cho ăn 3 bữa/ngày, hoặc có thể điều chỉnh tăng bữa tuỳ thuộc nhu cầu của tôm. Giai đoạn này nên sử dụng thức ăn bổ sung M.I.P, TODE, YUM YUM theo tỷ lệ 5g/1 kg, cho ăn tất cả các bữa trong ngày kích thích tôm bắt mồi, mau lớn. Đồng thời có thể cho tôm ăn thêm MOMO, MANTRA, SHOSON, RUNA, WELLA, GUFA giúp nong to đường ruột, kích thích tiêu hoá, thúc đẩy sự tăng trưởng của tôm (nên sử dụng đến khi thu hoạch).
– Chú ý trong quá trình nuôi nên cho ăn kết hợp với sản phẩm chứa vitamin C như VIT C PLUS, VITA C, HI – C theo tỷ lệ 3-5 g/kg thức ăn, sản phẩm chuyên dùng cho gan như MAXWELL, CEL-MAX để bảo vệ gan tôm, phòng các bệnh về gan, làm tăng tỉ lệ sống, sản phẩm chứa khoáng như CA-PHOS, CAL PLUS 3-5 g/kg thức ăn giúp tôm thẻ chân trắng tạo vỏ nhanh, mau lớn, tỉ lệ sống cao.

Cách điều chỉnh thức ăn trong quá trình nuôi tôm:

Trường hợp 1: Đặt 4 nhá đơn trong ao/1 hectaTrường hợp 2: Đặt 2 chiếc nhá đôi chỗ nước sâu nhất và chỗ nông nhất
Cho thức ăn vào nhá: 8g/1 kg tôm trong suốt quá trình nuôi. Đặt sau khi cho ăn 10 phút.
Thời gian kiểm tra nhá:Tuổi từ 21-60 ngày:– Kiểm tra hoạt động bắt mồi cuả tôm sau khi cho ăn 20-25 phút, và kiểm tra khả năng bắt mồi của tôm sau khi cho tôm ăn 45 phút.Tôm đựơc 61-90 ngày tuổi:

– Kiểm tra hoạt động bắt mồi của tôm sau khi cho ăn 20-30 phút.

– Kiểm tra thức ăn thừa sau 60 phút.

Tôm từ 90 ngày tuổi trở lên:

– Kiểm tra hoạt động bắt mồi của tôm sau khi cho ăn 30-45 phút.

– Kiểm tra thức ăn thừa sau 90 phút.

Cho thức ăn vào nhá theo 2 tỷ lệ:
– Nhá kiểm tra hành động: 5g
– Nhá kiểm tra thức ăn: 5-10 g/1 kg tômThời gian kiểm tra nhá:– Tiến hành kiểm tra hoạt động của tôm trong suốt quá trình nuôi sau khi cho ăn 15-20 phút (quan sát thân tôm, ruột tôm, phân tôm).Khi tôm đạt được độ tuổi 21-50 ngày:

– Kiểm tra thức ăn thừa sau sau 60 phút cho ăn.

Tuổi từ 51 đến 90 ngày:

– Kiểm tra thức ăn thừa sau khi cho ăn 60 phút.

Tôm từ 90 ngày trở lên:

– Kiểm tra thức ăn thừa sau khi cho ăn 60-90 phút.

Chú ý: khi nhấc nhá 2 lần phải tiến hành nhẹ nhàng không làm ảnh hưởng đến tôm.Chú ý: Khi kiểm tra nhấc 1 nhá hết sức nhẹ nhàng để tôm ở nhá kia không bị ảnh hưởng.

Kỹ thuật điều chỉnh thức ăn:
– Nếu tôm thẻ chân trắng ăn hết thức ăn trong 2 ngày liền thì tăng lượng thức ăn lên 10-20 %.
– Nếu tôm không sử dụng hết thức ăn, hoặc trong trường hợp thay bằng thức ăn khác nên kiểm tra ruột tôm, phân tôm, giảm thức ăn từ 30-50%.
– Khi tôm chưa lột vỏ định kỳ 10-15 ngày nên ngừng cho tôm ăn để tôm ăn thức ăn rơi vãi dưới đáy hồ. Do đó sẽ giảm lượng thức ăn thừa dưới đáy hồ, cải thiện được chất lượng nước. Đặc biệt trong giai đoạn 30-80 ngày tuổi.
– Trong trường hợp trời nắng đẹp, tảo phát triển mạnh, thức ăn tự nhiên phong phú kiểm tra ruột tôm thấy có nhiều thức ăn tự nhiên. Hoặc trong những trường hợp thấy các yếu tố môi trường thay đổi đột ngột: xuất hiện khí amonia tăng lên đột ngột nên ngừng cho ăn từ 1-2 ngày, kết hợp với cho thức ăn vào nhá để kiểm tra hoạt động bắt mồi của tôm  điều chỉnh thức ăn cho phù hợp.
– Thường xuyên quan sát ao tôm, nếu thấy tôm quá mập nên ngừng cho ăn một vài bữa hoặc giảm lượng thức ăn còn 70-80% để tôm có hình thể đẹp.
– Giai đoạn tôm từ 1-40 ngày nên dùng thức ăn có hàm lượng prôtein cao 40-50%. Từ ngày 41 trở đi đến lúc bắt bán thì cho ăn thức ăn có hàm lượng protein 30-35%.
– Sau khi thả tôm được 30 ngày nên tiến hành bắt tôm để kiểm tra trọng lượng tôm, so sánh trọng lượng tôm với trọng lượng trong bảng hướng dẫn cho ăn, sau đó định kỳ 10 ngày kiểm tra trọng lượng tôm 1 lần và tiến hành điều chỉnh thức ăn theo bảng hướng dẫn.
– Khi thấy tôm không đồng đều chứng tỏ tôm thiếu thức ăn nên bổ sung thêm thức ăn cho tôm.

IV. Quản lý môi trường ao nuôi

Bảng 6: Các yếu tố môi trường phù hợp để thả tôm thẻ chân trắng

Yếu tố môi trườngKhoảng phù hợp để thả tôm
1. pH7,5-8,5
2. Hàm lượng oxyLớn hơn 4 ppm
3. Độ kiềmKhông thấp hơn 80-100 ppm
4. Độ cứngKhông thấp hơn 200 ppm
5. Độ mặn5-10 ppm
6. AmoniaKhông cao quá 0.1 ppm
7. Độ trong50-70 cm
8. TảoNước có màu xanh nõn chuối, thành phần tảo silic không quá 5%

 

Bảng 7: Các yếu tố môi trường phù hợp trong quá trình nuôi tôm thẻ chân trắng

Chất lượng nướcNgưỡng phù hợp
1. pHBuổi sáng: 7,5-8

Buổi chiều 8-8,5

2. Oxy hòa tan trong nướcKhông thấp hơn 4 ppm
3. Độ kiềm100-200 ppm
4. Độ cứngKhông thấp hơn 200 ppm
5. Độ mặn1-3 ppm
6. AmoniaKhông quá 0,1 ppm
7. Độ trongTháng 1: 60-70 cm

Tháng 2: 40-50 cm

Tháng 3: 30-40 cm

Tháng 4: 30-40 cm

8. TảoTảo lục

Độ pH: ngoài độ pH ở mức nói trên thì pH trong ao nuôi còn phải đảm bảo độ dao động pH trong ngày không quá 0,5-1 ví dụ như pH buổi sáng 7,8 thì pH buổi chiều lúc 13 giờ không quá 8,8 nhằm điều chỉnh lượng oxy trong ao nuôi và kìm hãm sự phát triển của vi sinh vật có hại trong ao nuôi tôm. Đồng thời cân bằng hệ đệm cacbonate trong ao.

Cách xử lý khi pH trong ao nuôi cao:
– Khi pH trong ao nuôi tăng cao: Nếu pH trong ao không quá cao ta có thể sử dụng chế phẩm sinh học chứa các vi sinh vật có lợi nhằm tăng cường tốc độ phân huỷ hợp chất hữu cơ trong ao nuôi.
– Nếu pH trong ao nuôi quá cao thì biện pháp xử lý bằng sản phẩm chứa vi sinh vật có lợi không hiệu quả mà ta có thể sử dụng đường cát 3-10 kg/hecta hoặc rỉ mật 3-5 kg/hecta.
– Nếu pH trong ao quá cao do mật độ tảo trong ao dày, chứa nhiều tảo độc ta có thể thay nước, hoặc sử dụng một số loại hoá chất như Hydroperoxit tỷ lệ 1-2 lít/hecta vào lúc chiều mát, tại điểm cuối gió.

Khi độ pH thấp: Sử dụng vôi tôi (canxi hydroxyt) để tăng pH ao nuôi với tỷ lệ 10 kg/hecta, mang hoà với nước rồi tạt khắp hồ.

Độ kiềm (alkalinity): Các biện pháp xử lý khi độ kiềm chưa phù hợp:Độ kiềm phù hợp để thả tôm là 80 ppm trở lên. Nếu độ kiềm thấp có thể sử dụng ALKA MAG  theo tỷ lệ 3-5 kg/hecta. Định kỳ sử dụng 7 ngày một lần sẽ cải thiện độ kiềm trong ao nuôi. Biện pháp này có thể thực hiện vào lúc sáng sớm. Nếu muốn tăng lượng kiềm trong ao nhanh chóng sử dụng vôi Sodium bicarbonate theo tỷ lệ 5-10 kg/hecta có thể sử dụng phối hợp với rỉ mật nhằm tăng lượng kiềm trong nước.

Các biện pháp giảm hàm lượng khí độc  trong ao nuôi tôm:
– Dùng chế phẩm sinh học như Bacillus subtilisvannamei loại chế phẩm sinh học dạng bột gồm nhiều vi sinh vật có lợi như: Bacillus sp, Nitrosomonas sp, Nitrobacter sp,Pedioccus sp giúp phân huỷ chất thải và chuyển hoá amonia, nitrit sang trạng thái Nitrate. Ngoài ra Bacillus subtilis vannamei còn chứa enzyme giúp phân huỷ chất thải, do đó giảm lượng bùn đáy hồ. Dùng Bacillus subtilis vannamei theo tỷ lệ 0.5-1 kg/hecta.
– Trong trường hợp có thể thay nước nên tiến hành thay nước 20-30% lượng nước ao, nên sử dụng nước đã qua ao lắng nhằm hạn chế lượng chất hưũ cơ lơ lửng vào ao. Giảm lượng thức ăn cho tôm ăn xuống 10-20 %.
– Tăng cường mở máy quạt nước nhằm tăng hàm lượng oxy trong ao tăng quá trình phân huỷ hiếu khí, giảm khí độc.
– Quản lý tốt pH trong ao không để pH tăng quá cao làm tăng hàm lượng khí amonia. Trong trường hợp ao có nhiều tảo đáy phải tiến hành vớt hết rong đáy nhằm hạn chế lượng hợp chất thối rữa dưới đáy hồ.

Biện pháp xử lý lượng nitrit:
– Nếu có điều kiện nên thay nước 20-30% lượng nước trong ao nuôi, nên sử dụng lượng nước đã qua ao lắng để cho vào ao.
– Sử dụng chế phẩm vi sinh như: US PZT theo tỷ lệ 0,5-1 kg/hecta. Định kỳ 7 ngày sử dụng 1 lần trong suốt quá trình nuôi. Nếu hàm lượng nitrit trong ao quá cao sử dụng US PZT có khả năng giảm nitrit nhanh chóng.
– Giảm lượng thức ăn xuống 10-20% nhằm hạn chế thức ăn thừa, hạn chế khí độc.
– Mở máy quạt nước nhằm tăng hàm lượng oxy trong nước tăng quá trình phân huỷ hiếu khí amonia thành nitrit, nitrate. Hàm lượng oxy nên duy trì lớn hơn 5 ml, độ kiềm nên duy trì lớn hơn 80 mg/lít.

Các biện pháp quản lý tảo:
– Trường hợp rêu hạt sinh sản nhiều nên thay nước ở tầng mặt lúc ban ngày do có tảo nổi trên mặt nước hoặc vớt ra, không nên sử dụng hoá chất vì tảo sẽ chìm xuống đáy hồ và thối rữa đồng thời sẽ bám vào mang tôm là nguyên nhân gây bệnh cho tôm.
– Trường hợp rêu đuôi chồn quá nhiều cũng phải thay nước hay lấy dung dịch xử lý nước loại có thể xử lý tảo đuôi chồn, cũng có thể sử dụng hoá chất như Formalin với tỷ lệ 3-5 lít/ha cho vào góc hồ lúc buổi chiều 4-5 giờ liên tục cho 2-3 ngày liền, đến khi nào màu nước sáng lên. Ngoài ra cũng có thể dùng MOSSY 500g/ha cho vào góc hồ cuối hướng gió lúc ban ngày cũng có thể giảm được đáng kể tỷ lệ tảo. Sau khi xử lý bằng hoá chất thì dùng CALINA để giảm khí độc và giúp lắng đọng xác tảo xuống đáy hồ, đồng thời sử dụng sản phẩm vi sinh tiêu huỷ chất thải dưới đáy hồ.
– Tránh để nước có độ mặn dưới 10 ppt vì sẽ dễ gây ra các loại rêu rong màu xanh tím do nhóm rong rêu tảo loại này khó sinh ra ở nước có độ mặn trên 15 ppt.
1. Nhóm tảo xanh
– Nếu pH trong hồ cao do tảo hạt như Ocystis thì cho thay nước bề mặt lúc buổi trưa giống trường hợp tảo màu xanh tím.- Trong trường hợp cần thiết phải xử lý bằng hoá chất, lấy FormalinHydrogen Peroxit như nhau để giảm độc. Sau đó dùng tiếp bằng CALINA  để giảm khí độc có thể gây ra đồng thời giúp lắng đọng các loại xác tảo xuống đáy hồ và dùng vi sinh tiêu huỷ chất thải ở đáy hồ.

2. Nhóm tảo nâu (Diatom)
Nếu gặp Nitric tỷ lệ nhiều làm cho độ pH trong nước cao và bám vào mang tôm thì có thể thay nước hoặc dùng vôi lò 10 kg/ha hoà với nước và tạt sau 12 giờ đêm để không ảnh hưởng do pH quá nhiều. Quan sát màu nước, nếu màu nước sậm có thể xử lý lần nữa cách một ngày hoặc sử dụng Formalin 40% trước máy quạt nước lúc sáng có nắng với tỷ lệ như ở bảng 7. Formalin sẽ huỷ chất nhầy protin bọc màng của Diatom làm cho Diatom phân huỷ.
Bảng 9: Tỷ lệ sửdụng Formalin trong hồ có độ mặn khác nhau

Độ mặn PPTTỷ lệ lọc Formalin/ha
0-1215-20
13-2020-25
21-3025-30
Trên 3030-35

Trong trường hợp có Coscinodiscus nhiều, không nên sử dụng hoá chất sẽ làm cho tảo có lợi chết cùng một lúc. Khi tế bào tách ra, lượng Amoniac trong hồ tăng lên trong thời gian rất ngắn và gây nguy hiểm cho tôm, trong trường hợp này xử lý bằng cách dùng vi sinh 3 ngày 1 lần để vi sinh đi tranh giành thức ăn của coscinodiscus làm cho nó chết dần dần. Lượng Amoniac sẽ không tăng lên nhiều.

3. Nhóm Dinoflagellate ( Tảo Phát Sáng)
Nếu gặp nhóm tảo loại này mà không thể thay nước được thì có thể dùng thuốc diệt khuẩn như  LASER – S
Với tỷ lệ 1-2 lít/ha hoà với nước gấp 10-50 lần đem tạt tại vùng có tảo nhiều như góc hồ. Sau khi xử lý nhóm tảo này nhất thiết phải sử dụng dung dịch xử lý nước để huỷ chất độc của Amoniac.

4. Động vật phù du (Zooplankton)
Trường hợp Cilyatl giai đoạn tăng số lượng trong thời gian rất ngắn, khi hết thức ăn sẽ tự chết làm cho nước có màu nếu có mật độ dày. Phải làm công tác xử lý cùng cách như xử lý Rotifer mật độ dày như: LASER –S  hoà với nước 1-2 lít/ha. Khi Cilyatl hoặc Rotifer chết mới làm màu nước mới. Cách xử lý nhóm Protozoa gặp nhiều ở nền đáy có nhiều chất hữu cơ, do đó sẽ xử lý bằng vi sinh tiêu huỷ chất thải, để không còn tồn đọng chất thải ở nền hồ hay đặt máy đánh nước ở vị trí phù hợp để tập trung bùn trong nền hồ vào giữa, làm cho nền hồ sạch và đề phòng vấn đề tôm bẩn bùn. Phần xử lý vấn đề Zoothamnium bám thân tôm có thể bằng cách thay nước để thúc cho tôm lột và xử lý bằng vi sinh thường xuyên không để chất thải tồn đọng dưới đáy hồ. Nếu có Zoothamnium nhớt bám nhiều, có thể xử lý bằng thuốc diệt Zoothamnium nhớt vào lúc buổi sáng và mở máy đánh nước mạnh. Khi quan sát thấy tôm có hiện tượng tốt lên, có thể xử lý lại lần nữa để cho chất vi khuẩn còn rơi rớt hết đi.

V. Cách đề phòng và điều trị bệnh

Trong giai đoạn đầu, có thể quan sát từ các bộ phận sau:
– Vỏ thân: Tôm mới bệnh hay đang bệnh, vỏ thân tôm có màu sậm hay xám hơn bình thường, không bóng đẹp, có vết mòn, giòn hay có chất lạ đóng vẩy từng mảng bám vào vỏ hay toàn thân tôm.
– Đuôi: Khi tôm yếu, đuôi tôm rủ xuống, không xoè như tôm bình thường. Nếu bóp nhẹ ở góc đuôi tôm, đuôi sẽ xoè ra một chút.
– Ruột: Tôm mới bệnh sẽ ăn ít đi, khi bệnh nặng thì tôm bỏ ăn. Quan sát ruột tôm bệnh sẽ thấy rỗng hoặc không có thức ăn.
– Mang: Khi quan sát thấy màu mang tôm khác thường, màu mang đổi thành các màu như: màu vàng, màu cam, màu nâu, màu đỏ, màu đen, hơi giòn bẻ thối rữa ngoài ra có trạng thái phù nước.
– Chân bơi, chân bò và đuôi: cần quan sát xem có vết rách, xước mòn hoặc có mảng bẩn bám tại các bộ phận đó hay không.
– Gan và lách: có thể nhìn xuyên qua thân vỏ tôm hay mở phần vỏ đầu ra quan sát màu sắc và kích thước của gan và lách có khác thường hay không. Gan và lách của tôm bệnh sẽ teo nhỏ, có màu sậm hoặc xám hơn bình thường.

VI. THU HOẠCH:

Sau khoảng 03 tháng nuôi, tôm thẻ chân trắng đạt cỡ thương phẩm 60 – 80 con/kg thì tiến hành thu hoạch.

Leave a Reply